Burnout đến từ "khan hiếm giả tạo", khi tổ chức liên tục nguỵ tạo sự cấp bách vượt quá giá trị thực tế

Chuyên mục cuối tuần đuýp đuýp.

Gần đây mình nghe khá nhiều bạn bè và học viên BPM nhắc đến burnout. Mình cũng có chút suy nghĩ về hiện tượng này muốn chia sẻ.

Burnout dĩ nhiên có nhiều nguyên nhân cá nhân: overwork, thiếu nghỉ ngơi, áp lực tài chính, thay đổi môi trường sống, hoặc đơn giản là stress kéo dài.

Nhưng ngoài các yếu tố đó, mình nhận ra có một pattern từ phía tổ chức xuất hiện lặp đi lặp lại trong rất nhiều trường hợp.

Mình tạm gọi nó là “Khan hiếm giả tạo”

Đây là trạng thái tổ chức liên tục yêu cầu mức độ cấp bách, hy sinh hoặc tăng tốc vượt quá mức mà strategic value hoặc ‘bằng chứng/data’ hiện có thật sự justify.

Mọi thứ đều priority cao.
Deadline luôn phải kéo sớm hơn.
Initiative liên tục được thêm vào.
Team luôn bị yêu cầu ‘push harder’.

Nhưng khi hỏi “Nếu việc này chậm hơn 2 tuần thì hậu quả cụ thể là gì?” thì câu trả lời thường khá mơ hồ, hoặc giá trị không tương xứng với mức độ áp lực được tạo ra.

Trong một số trường hợp, “khan hiếm giả tạo” không có nghĩa áp lực hoàn toàn là giả. Nhiều công ty thật sự đang chịu: áp lực tăng trưởng, runway/hết tiền, cạnh tranh, investor, hoặc market timing rất khắc nghiệt. Và thực tế, nhiều cơ hội chiến lược chỉ tồn tại trong khoảng thời gian rất ngắn. Có những lúc tổ chức bắt buộc phải move nhanh trước khi evidence đủ rõ.

Vấn đề kỳ kỳ ở đây là khi trạng thái “khẩn cấp” từ tạm thời, dần bị chuyển thành chế độ vận hành mặc định, kể cả khi hậu quả hay cái giá thực tế không còn tương xứng nữa.

:speech_balloon: “Ráng thức đêm mấy tuần làm xong đợt launch này rồi thở thở”. Nhưng vừa xong đợt này thì ngay lập tức đợt tiếp theo ập tới, liên tục liên tục chưa thấy hồi kết.

:speech_balloon: “Ủa nhưng mà công ty em chạy thục mạng vậy là hướng đến điều gì dạ?”

:speech_balloon: “Same question chị ơi, em cũng đang bị lost”

(trích câu chuyện không có thật).

Sự bào mòn không từ workload nặng, mà từ không hiểu mình đang trả giá cho điều gì

Không phải lúc nào workload cao cũng dẫn đến burnout. Thực tế có những team workload rất cao nhưng không dễ burnout tới vậy. Ví dụ:

  • startup thật sự đang ở survival mode, cả team cùng đồng lòng vượt qua.
  • production incident nghiêm trọng, dồn công sức ngắn hạn để sửa.
  • thức đêm cày một đợt launch có ý nghĩa lớn với công ty.
  • chạy số nước rút cho kịp đợt gọi vốn hay gây quỹ sắp tới.

Những giai đoạn đó vẫn rất mệt. Nhưng con người thường chịu được áp lực tốt hơn khi họ hiểu vì sao phải hy sinh (sự hy sinh được gắn “ý nghĩa”). Urgency gắn với hậu quả/cái giá rõ ràng và effort của họ gắn với cảm giác đang compound vào một định hướng ổn định.

Còn trong trường hợp của những bạn mình quan sát, điểm gây burnout là khi trạng thái “khẩn cấp” kéo dài liên tục nhưng giá trị phía sau ngày càng khó nhìn thấy.

  • Launch phải đẩy sớm hơn để “kịp ngày đẹp thầy coi”, “để demo ở tiệc của VVIP”.
  • Roadmap đổi vì competitor vừa launch feature mới.
  • Cả team chạy theo một initiative chỉ vì leadership “có gut feeling”, “nằm mơ thấy”.
  • Backlog p1 dài ra vì loạt tính năng truyền cảm hứng từ Linkedin post.
  • Deadline bị kéo lên vì đó là “stretch goal” cho “team phát triển năng lực”.
  • CEO đang theo đuổi philosophy của Elon Musk, cái gì đáng lẽ làm 5 năm thì dồn xuống 6 tháng.

Không phải các quyết định này lúc nào cũng sai (mặc dù có những cái rõ sai). Thậm chí trong môi trường uncertainty cao, nhiều leadership team buộc phải hành động trước khi có đủ evidence.

Vấn đề là ở nhiều tổ chức, tốc độ dần trở thành cơ chế thay thế cho strategic clarity.

Thay vì:

  • thu hẹp scope
  • thảo luận trade-offs
  • re-evaluate assumptions
  • thừa nhận uncertainty
  • hoặc đặt lại câu hỏi về direction

tổ chức phản ứng bằng cách:

  • thêm deadline
  • thêm initiative
  • thêm expectation
  • thêm áp lực vận hành

Tăng hoạt động (busy being busy) bắt đầu tạo cảm giác “đang kiểm soát được tình hình”, kể cả khi direction thật sự chưa rõ hơn bao nhiêu. Nên việc team bỏ effort chạy thục mạng để theo đuổi điều gì, cũng không hề rõ.

Và trong những trường hợp mình quan sát, nó thường xuất hiện khi lãnh đạo (dưới áp lực kéo dài, uncertainty cao, trách nhiệm phải giữ tổ chức tiếp tục sống sót, hoặc đáng buồn thì là vì cái tôi cá nhân), mất khả năng hiệu chỉnh giữa định hướng và thực tế, và rơi vào một trong hai dạng failure mode dưới đây.

1. Dạng A: Liên tục đổi hướng

Đây là kiểu leadership thiếu một “cái neo” đủ vững để phân biệt đâu là signal, đâu là noise.

  • Một động thái của đối thủ.
  • Một comment từ investor.
  • Một bài LinkedIn.
  • Một insight mới vừa đọc đâu đó.
  • Một ai đó vừa nhắc chữ “AI”.

… đều có thể dẫn tới việc đổi direction.

Update niềm tin không sai. Nhưng khi tổ chức không còn phân biệt được đâu là signal và đâu là noise, team sẽ dần mất cảm giác rằng effort của mình đang đóng góp vào một cái gì đủ bền.

Team vừa spend nhiều tuần research, align stakeholder và setup roadmap cho hướng A. Ngay trước launch, direction đổi sang B. Rồi vài tuần sau lại xuất hiện hướng C, và đi thật xa để trở về A.

Điều mệt nhất không phải làm nhiều. Mà là cảm giác “Mọi nỗ lực đều có thể bị vô hiệu hóa bởi một lần đổi ý từ phía trên”

2. Dạng B: Không bao giờ thật sự đổi hướng

Đây là kiểu leadership không còn cập nhật niềm tin theo feedback thực tế. Định hướng ban đầu có thể từng hợp lý. Nhưng thị trường thay đổi, nhu cầu thay đổi, cạnh tranh thay đổi, còn định hướng thì không.

Mọi tín hiệu trái với direction hiện tại đều được giải thích thành:

  • execute chưa đủ nhanh, tốt.
  • team chưa đủ ownership.
  • sales chưa đủ mạnh.
  • marketing chưa đủ cố.
  • sản phẩm chưa đủ polish, nhiều bugs.

Và đúng là execution problems thường dễ nhìn thấy hơn strategic problems rất nhiều.

  • landing page ‘chưa đủ đã’, thì dễ thấy.
  • sản phẩm load chậm UX cồng kềnh, thì dễ thấy.
  • sales conversion thấp, thì dễ thấy.
  • customers retention giảm, thì dễ thấy.

Trong khi câu hỏi “Có thể direction ban đầu đang sai?” lại mơ hồ, khó đo lường và khó đối diện hơn nhiều.

Nên áp lực tiếp tục bị đẩy xuống execution. Giải pháp luôn là push harder, execution tốt hơn.

Dạng burnout này đến từ cảm giác “Kết quả không tới không bao giờ là do sếp sai định hướng, mà luôn là do mình thực thi chưa đủ tốt.”

Vấn đề không ở nỗ lực thực thi, mà nằm ở việc định hướng chưa bao giờ đủ rõ, đủ đúng, hoặc đủ grounded trong thực tế ngay từ đầu.

Một bên liên tục đổi hướng. Một bên gần như không bao giờ đổi hướng.

Nhưng cả hai đều cùng đến từ việc định hướng không đủ grounded trong reality.

Khi leadership không chịu nhìn nhận và hấp thụ vấn đề ở tầng định hướng, vấn đề đó bị chuyển hoá xuống tầng vận hành. Sẽ luôn là do team chưa đủ agile, chưa đủ ownership, chưa move fast enough, chưa hiểu customer đủ sâu, chưa đủ proactive, chưa đủ committed bla bla blo blo.

Narrative cụ thể có thể khác nhau giữa từng công ty. Nhưng chức năng của nó thì giống nhau, giữ cho phía trên tránh khỏi việc nhìn lại định hướng của chính mình.

Và khi lời giải thích luôn là “execution chưa đủ tốt” thì hành động tiếp theo gần như luôn là deadline mới, initiative mới, urgency mới, expectation mới, scope mới.

Tổ chức bắt đầu vận hành trong trạng thái “lúc nào cũng gấp” nhưng không biết mình đang gấp vì điều gì.

Cái gấp này không phải đánh đổi ngắn hạn vì mục tiêu dài hạn cao cả nào, mà chỉ là “khan hiếm giả tạo”.


P.s: Thật ra mình định viết nhiều hơn, bao gồm cả brainstorm “Lối ra” trong tình huống này :))) nhưng mà thôi để đăng thử có ai đọc Phần 1 không đã rùi mới viết tiếp Phần 2.

9 Likes

Quả là 1 bài viết đúng thời điểm với mình ( dù mình đã tạm vượt qua được burnout theo concept @daphtd nói) nhưng mặc khác việc công ty không có 1 sự xác định cụ thể về chiến lược, định hướng trong quý tới, hay là năm tới ( kiểu chỉ yêu cầu mình maintain trong lúc đợi outsource làm lại phần core system) nhưng mỗi lần họp là 1 lần yêu cầu team phải chủ động A,B,C…mà k có 1 sự phản hồi để làm rõ what, why, how => mình trở nên lạc lối ác luôn :slight_smile:

3 Likes

Topic đuýp quá =)) Vài tháng trước mình cũng có viết một vài thứ liên quan đến chuyện burnout. Mặc dù là những vấn đề về mặt tổ chức thì khó để một cá nhân có thể ảnh hưởng, nhưng đâu đó mỗi người chúng ta cũng phải ráng tìm cách tránh burnout (ko được thì chắc chỉ có quit). Trong bài đó có trích đoạn mình nghĩ cũng liên quan:

Khi suy nghĩ về causal model cá nhân, mình nhận ra một hệ quả quan trọng mà trước đó mình chưa nhìn rõ: khi năng lượng liên tục bị phân bổ vào những việc không tạo ra tiến triển rõ ràng, mình không chỉ không đạt được kết quả, mà còn dần rơi vào trạng thái burnout. Chúng ta cần đưa nó vào causal model cũng như tinh chỉnh các đòn bẩy để phòng tránh được nó.

Theo nghiên cứu của nhà tâm lý học Christina Maslach, burnout không chỉ đơn thuần là mệt mỏi, mà là một trạng thái suy sụp trên ba phương diện: exhaustion (cạn kiệt năng lượng), cynicism (xa rời và yếm thế với công việc), và inefficacy (cảm giác mình không còn tạo ra giá trị). Nếu cả ba phương diện này hiện diện đầy đủ và trở thành mặc định, lúc đó burnout đã là một căn bệnh mãn tính không thể cứu vãn ngoài việc xin nghỉ rước lấy sự giải thoát.

May mắn thay là mình chưa đi đến bước đường cùng đó. Thứ mình đối diện nặng nề nhất chủ yếu là sự cạn kiệt năng lượng (exhaustion) - thể hiện qua việc mình bắt đầu phụ thuộc vào giấc ngủ trưa để lết qua được buổi chiều, và cứ sau mỗi thứ Hai căng thẳng thì thứ Ba lại là một ngày não bộ gần như đình công.

Nhưng điều đáng sợ là, từ sự cạn kiệt năng lượng đó, mình thỉnh thoảng bắt đầu thấy bóng dáng le lói của hai yếu tố còn lại. Đôi khi sự hoài nghi (cynicism) lướt qua khi mình viết báo cáo tuần với suy nghĩ “chắc chẳng ai thèm đọc cái này đâu”, hoặc sự bất lực (inefficacy) thoáng hiện lên khi mình tự nhủ “có lẽ việc mình đang làm chẳng thay đổi được cục diện gì”. Những khoảnh khắc đó tuy ngắn ngủi nhưng giống hệt như một tín hiệu cảnh báo đỏ. Điều nguy hiểm là ba trạng thái này không tấn công cùng lúc - chúng lây lan theo hiệu ứng domino từ sự kiệt quệ thể chất bước sang sụp đổ tinh thần. Và con đường ngắn nhất châm ngòi cho chuỗi phản ứng dây chuyền đó chính là việc phân bổ năng lượng sai trong một thời gian dài.

Vì thế, mình bắt đầu đưa “tránh burnout” trở thành một outcome ngang hàng với các outcome liên quan đến sản phẩm. Nếu nhìn dưới góc độ danh mục đầu tư, đây không chỉ là một mục tiêu, mà là một ràng buộc bắt buộc phải tôn trọng. Không có một danh mục nào có thể tồn tại lâu dài nếu nó liên tục đốt vốn mà không tạo ra lợi nhuận, và con người cũng vậy. Chúng ta cần làm những thứ cho mình năng lượng, và thực hiện những hoạt động đó là đòn bẫy chính trong causal model để tránh khỏi burnout.

Ban đầu, mình nghĩ rằng chỉ cần nói chuyện với users là đủ để tạo năng lượng tích cực, nên mình chỉ ghi “Talk to customers” là một trong những đòn bẩy tránh burnout. Nhưng sau một thời gian, mình cảm thấy không phải buổi nói chuyện với users nào cũng có hiệu ứng đó. Điều thực sự tạo ra năng lượng không phải là việc nói chuyện, mà là insights có được từ những cuộc nói chuyện đó - là khoảnh khắc mình kéo được nhiều mảnh thông tin rời rạc thành một câu chuyện mạch lạc. Từ đó, mình điều chỉnh lại cách mình định nghĩa đòn bẩy của mình thành “Gather and synthesize customer feedback that act as levers to increase [X] adoption”, để đảm bảo rằng năng lượng mình bỏ ra thực sự chuyển hóa thành kết quả mà mình quan tâm.

2 Likes

Bài viết rất là thực tế luôn c Ni ơi =)))) Cty em cũng có hiện tượng này mà ko thể chứng mình dc: Nhờ đọc bài này mà em chỉ mặt đặt tên dc cái tình trạng này haha. Nghe nó sang mà nó khoa học hơn hẳn :grinning_face_with_smiling_eyes:

Em cũng experience hiện tượng này trong khoảng 6 tháng trở lại đây, và phải nói là burn out thân tàn ma dại lun. Nhưng cũng may là em vượt qua được rồi. Cách vượt qua burn out của em không science-backed như cách mà chị bóc tách ở trên đây, mà chỉ đơn giản chill hơn một chút. Tức là mặc dù situation lúc nào cũng như “nước sôi lửa bỏng”, nhưng mà nếu mình just calm the hell down and chill, thì rồi nó cũng ổn á. Còn mình cứ nóng bừng bừng lên, đặc biệt là vai trò PM nữa, thì influence lên cả team cũng ko tốt.

Cách này thì thật ra là do em quan sát được từ một số người anh trong cty có tính cách bẩm sinh là bình tĩnh, điềm đạm như vậy. Với cả nta cũng có chút tuổi rồi nên nhìn mọi thứ nó cũng bớt căng thẳng lại. Em lâu dần thành quen. Nên vẫn có thể là burn out nhưng mà kiểu nó chill với bớt để lại hậu họa hơn á =)))

Ui nói về chủ đề này thì dài lứm. Hnao mình có cơ hội catch up buôn thêm đi mng uiwi =)))

3 Likes

Ý này hay :))) @thomastheproductguy nhiều khi mệt mỏi quá D cũng phải force mình chậm lại và sẵn sàng dành thời gian để clear lại suy nghĩ + ưu tiên.

Thà chậm chậm lại mà đi tiếp từ từ được chứ khá sợ việc mình bị sụm nụ rùi dừng hoàn toàn.

2 Likes

Yeee đúng thiệt nhiều khi mình chỉ cần “khoan khoan, dừng khoảng chừng là 2 dzây :raised_hand:

  • mình nhận ra “ủa ủa, có dzì đâu mà gấp” (tức là mình nhận ra ‘value’ của sự gấp gáp này nó hog cao tới mức mà nó đang demand mình) hoặc
  • mình nhận ra mình chưa đặt giới hạn cho bản thân/ giap tiếp nó với cấp trên nên cấp trên cứ được đà là push =))) nhiều khi chỉ cần a simple “no” hoặc “team hết resources rùi anh” có khi cũng giúp cấp trên bớt đẩy.

Chắc mấy ảnh sống đủ lâu và thấy đủ nhiềuu rùi đó Hoài @hoaint_bpm14 =))))

Chị đi làm gần 10 năm cũng nhận ra mình nên dành nguồn lực bản thân để chạy marathon thay vì chạy sprint. Mình sẽ chấp nhận một vài giai đoạn cần nước rút hơn bình thường nhưng đánh đổi phải rõ ràng chứ lúc nào cũng căng như dây đàn thì sụp sớm lắm, thời gian hồi phục còn lâu hơn nữa.

2 Likes

Huhu xin chia sẻ cùng Huyền @Jelly mình nghĩ nhiều khi cấp trên cũng ‘lạc lối’ không kém gì team phía dưới …

Một câu chuyện cá nhân của mình: Mình từng ngồi xuống nói chuyện thẳng với sếp về việc mình không hiểu định hướng công ty là gì, và cảm thấy nhiều thứ vận hành chưa hợp lý. Điều mình khá respect là sếp mình không né tránh chuyện đó (thật may mắn), mà acknowledged luôn rằng “bản thân anh cũng chưa thật sự rõ đường đi, nhưng một điều khá sure là leadership đều đang cố gắng tìm lối ra” (và mình thực sự nhìn thấy leadership làm việc rất cật lực). Sau cuộc nói chuyện đó, direction thật ra cũng chưa rõ hơn bao nhiêu :sweat_smile: nhưng mình thấy gỡ bỏ gánh nặng khá nhiều vì sếp nhìn nhận “kết quả không tới không phải vì team làm không tốt” và vấn đề ở tầng trên không bị phủ nhận rồi đẩy toàn bộ áp lực xuống tầng dưới theo kiểu “team chưa đủ cố”. Mình cũng tin tưởng team và công ty của mình hơn nhiều (dù trước giờ trust đã cao sẵn), dù làm thì vẫn bất định dã man nhưng cảm giác giống “oke tụi mình cùng vượt qua” chứ không phải một mình sấp mặt.

Tò mò hông biết Huyền có thể chia sẻ thêm đã vượt qua burnout bằng cách nào dọ?

2 Likes

Điều mệt nhất không phải làm nhiều. Mà là cảm giác “Mọi nỗ lực đều có thể bị vô hiệu hóa bởi một lần đổi ý từ phía trên”

Để update bio account công ty :))

4 Likes

Tự nhiên nhớ đến một bài khá hay. Cái này thì applicable nếu mn đang ở trong position with influence =)) nhưng cũng có thể gửi cho manager đọc chơi :slight_smile:

Snippet trước 1 đoạn =))

The Problem

When I started working on the “everything is high priority and nothing is getting done” problem, I caught a lucky break: everybody was frustrated and no one was pretending things were going well!

  • We were trying to accomplish too many projects at the same time.
  • No one understood their relative priority (everything was high priority).
  • No one had any full visibility into ongoing, planned, and deferred work.
  • Thus “prioritization” decisions were made with incomplete information.
  • This routinely caused the team’s focus to change to whatever was the problem of the week (or to solve for whomever was yelling loudest).
  • Without good visibility/observability, no one saw how projects shared dependencies across teams and departments. This led to too much work in progress (WIP) and an incorrect allocation of capacity and skill sets to projects.
  • All of this resulted in poor velocity, poor outcomes, and company frustration. People were quitting left and right, and it was starting to turn into a negative flywheel of bad begetting worse.

BUT! We managed to fix this.

The disclaimer is that the process took us six months, required quite a bit of buy in, and wasn’t painless. But to give you the spoiler alert, we managed to get every project back on track, delivered, and reduced turnover to near zero (from a high of 50%).

So if this sounds vaguely like a growing pain you’ve experienced or are trying to fix, read on!

1 Like

Mình đã từng làm trong môi trường như vậy cách đây 2 năm. Đủ hết cả options A và B luôn và cộng thêm cả những additional khác nữa. Trong suốt khoảng thời gian đó mình cực kỳ ám ảnh lên công ty.
Anw, trong giai đoạn đó và sau này mình rất dễ nhận diện những orginazation “ảo” như kiểu hô hào, tung hô, marketing, etc rất hay nhưng thực tế thì còn loay hoai và không biết cần làm gì và muốn gì

2 Likes

@NhanDana “additional khác nữa” là gì dạa Nhân :))) hóng

Anw, trong giai đoạn đó và sau này mình rất dễ nhận diện những orginazation “ảo” như kiểu hô hào, tung hô, marketing, etc rất hay nhưng thực tế thì còn loay hoai và không biết cần làm gì và muốn gì

Cũng là bài học đắt giá. Thật ra mình cũng trải qua rồi, hơi nếm mùi nên lúc đi apply job có thể nhận diện được và né từ đầu.

Mình thấy phần của @daphtd đã phân tích khá đầy đủ ở góc leadership/strategy.

Mình muốn bổ sung thêm một góc nhìn từ trải nghiệm cá nhân: câu chuyện “mang người từ enterprise sang làm startup”, đặc biệt là ở technical/operation.

Trước đây mình từng ở một agri-tech startup, nhưng leadership và một phần đội ngũ được điều chuyển từ môi trường big corp sang. Lúc đó vấn đề không chỉ nằm ở strategy, mà còn là xung đột về culture, mindset và working style.

Ở tầng trên thì định hướng thường khá “đao to búa lớn”, nhưng ở tầng execution thì:

  • Đội ngũ phần lớn có background IT Operations, thiên về vận hành ổn định hơn là build từ đầu

  • Tâm lý sợ rủi ro, sợ trách nhiệm (rất “enterprise”)

  • Decision-making chậm, nhưng áp lực thì lại cao, deadline project toàn 6 tháng

  • Nội bộ có xu hướng “cung đấu” nhiều hơn là cùng giải bài toán

Kết quả là nhiều thứ dừng ở mức slide/PowerPoint, còn khi vào execution thì bị khựng lại, hoặc đẩy qua đẩy lại giữa các bên.

Cảm giác lúc đó khá giống với “khan hiếm giả tạo”: áp lực và urgency thì luôn cao, nhưng khả năng thực thi thực tế lại không match, dẫn đến team vừa mệt vừa mất phương hướng.

1 Like

Này mình thấy đúng và rất rõ ở những tổ chức làm dịch vụ B2B, khi đội ngũ nhân sự hầu như là execute theo yêu cầu của khách nhưng không thực sự biết context đăng sau của yêu cầu đó là như thế nào, dẫn đến nhiều bạn burn-out khi áp lực deadline liên tục theo sự thay đổi theo sự “origami” của khách :melting_face:

1 Like

ohhh ví dụ này thú vị, cảm ơnn chia sẻ của Nhânn~

Ahhhhh, thiệt ra bí kiếp duy nhất mà mình áp dụng ở thời điểm đó là tạm kemeno :))) ( do tính chất bên cty mình thôi nhé).

Vì lúc mình mới vào là ngay giai đoạn chuyển đổi nhân sự, từ Director đến Manager, rồi gần như tháng nào cũng phải chỉnh lại Biz Plan (mà lại chạy trong năm nay) nên phải gọi là khủng hoảng kinh hoàng. Việc chẩn đoán case này cũng phải gọi là tâm linh lắm, vì các sếp mỗi người một kiểu ấy. Mình hỏi tsao A thì bác CEO bảo hãy hỏi bác Director, đến khi hỏi bác Director thì lại nhận đc câu tl lòng vòng hơn cả Hải Phòng > thành ra ở thời điểm đó mình cảm thấy như Dương nói ấy “sếp không có định hướng”. Nên mới có sự tích kemeno ở trên.

Tuy nhiên sau khi có sự chỉ đạo trực tiếp từ bác CEO thì mình cũng có chút ownership ( mặc dù vẫn 95% vẫn là phải đoán ý bác và còn phụ thuộc vào sự kiện tùu thời điểm). Lúc này các phòng ban mới có dịp ngồi lại và điều chỉnh lại kỳ vọng so vs năng lực thực tế (Dù thực tế tới thời điểm hiện tại mọi thứ vẫn mông lung như bình thường:)))).

Nhưng vấn đề cốt lõi ở đây (theo trải nghiệm và chia sẻ từ mọi người) vẫn nằm ở việc:

  1. Sự tự tin dựa trên thấu hiểu sai lệch:
  • Đánh giá và áp dụng Market theo góc nhìn của đất nước của sếp, không phù hợp với thực tế local.
  • Không có sự cởi mở cần thiết tại các thời điểm then chốt.
  1. Thiếu nền tảng thực tiễn trong ngành:
  • Không đánh giá đúng mức độ nghiêm trọng của các vấn đề tồn đọng.
  • Không có insight trong ngành nhưng vẫn đưa ra định hướng áp xuống team.
  • Yêu cầu mọi thông tin phải nhất quán, nhưng khi bản thân có thay đổi hoặc cập nhật thì (1) mập mờ, (2) không chia sẻ với team.
  1. Ra quyết định theo cảm tính, thiếu dẫn chứng:
  • Liên tục yêu cầu dùng AI với lý do “đối thủ cũng đang làm” nhưng không có dẫn chứng cụ thể để kiểm chứng.
  • Và team đang phải trải qua vấn đề tương tự khi còn làm dưới bác Director : áp góc nhìn cá nhân xuống team mà không qua kiểm chứng thực tế, thiên về giải pháp nhanh thay vì giải pháp đúng.
3 Likes

omggg chia sẻ quá hayy! cảm ơnn Huyền <3 <3 <3 @Jelly

2 Likes